Tôi đang
chuẩn bị điều trị ung thư vú thì lại phát hiện có thai, có nên giữ thai khi tôi
đã 36 tuổi và đang mong có con đầu? Đó là một trong số nhiều câu hỏi
bạn đọc gửi về tòa soạn báo SK&ĐS. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin, chúng
tôi giới thiệu bài viết của BS. Hồng Ánh.
Ung thư vú
khi đang có thai không quá hiếm nhưng ngày càng gặp nhiều hơn ở phụ nữ có tuổi
mới mang thai và sinh đẻ. Về phương diện y học, các liệu pháp điều trị đã được
chuẩn hóa nhưng chưa đủ các nghiên cứu và đánh giá về mặt cảm xúc đối với những
trường hợp còn khá phức tạp này.
Chiến lược
đặt ra với ung thư vú ở phụ nữ có thai phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn nào của
thai nghén: 3 tháng đầu, 3 tháng giữa hay 3 tháng cuối?
Chữa ung thư
vú khi mang thai như thế nào? Tỷ lệ chẩn đoán ung thư vú khi mang thai ở Pháp
khoảng 200 - 300 trường hợp mỗi năm. Tuy nhiên, ngày nay tuổi phụ nữ sinh con
lần đầu đã cao hơn và việc quản lý ung thư khi đang mang thai cũng đã có chất
lượng hơn.
Thai nghén
không làm khó cho việc điều trị, với ung thư vú, ngày nay tiên lượng không có
gì khác giữa phụ nữ có thai và không có thai. Điều này liên quan đến biểu hiện
ban đầu: đó là loại ung thư của phụ nữ trẻ, nói chung xâm lấn hơn và chẩn đoán
thường hơi chậm vì không ở trong môi trường phát hiện mà trong lúc sinh đẻ.
Việc điều trị do thầy thuốc chuyên khoa ung thư và thầy thuốc phụ khoa cùng xây
dựng và dựa trên giai đoạn mang thai, thể ung thư và kích thước khối u. Rất
nhiều khi phải chỉ định hóa liệu pháp nhưng không phải thực hiện giống nhau mà
theo từng giai đoạn. Thầy thuốc phải chấp nhận liệu pháp này với điều kiện phải
theo dõi sát thai nghén.
Nói một cách
giản lược, điều trị ung thư vú ở 3 tháng đầu của thai nghén khác hẳn với 3
tháng giữa và 3 tháng cuối. Trong trường hợp phát hiện ung thư vú khi mới có
thai thì vấn đề đình chỉ thai nghén được đặt ra. Việc này có thể trở nên cần
thiết nếu như cần phải chỉ định khẩn cấp hóa liệu pháp, chỉ định này có thể làm
cho phôi thai bị nhiễm độc vì đang ở giai đoạn tạo thành các cơ quan và tỷ lệ
dị dạng bẩm sinh cao. Nếu người mẹ vẫn muốn giữ thai thì có 2 lựa chọn: 1) Chờ
đến khi thai đã ở 3 tháng giữa (ngoài 12 tuần thai nghén) mới bắt đầu dùng hóa
liệu pháp. 2) Tạm thời bằng lòng với can thiệp ngoại khoa và chờ khi
đẻ xong thì bắt đầu điều trị bổ sung. Khi đã ở giai đoạn giữa của thai nghén
(ít nhất đã 4 tháng) thì thầy thuốc có thể yên tâm hơn vì đã có thể chỉ định
hóa liệu pháp truyền thống. Ở 3 tháng cuối cũng vậy. Điều đáng ngạc nhiên là
phụ nữ mang thai bị ung thư vú dung nạp liệu pháp hormon tốt hơn nhiều, không
bị nôn, trạng thái sức khỏe tổng thể vẫn ít thay đổi. Hóa liệu pháp nên ngừng
trước khi sinh 2-3 tuần và sau khi sinh 2-3 tuần mới lại tiếp tục. Ngày nay,
gần như không cần phải làm cho cuộc đẻ diễn ra sớm, chỉ cần thai nghén đã vượt
qua tuần 37 hay 38 kể từ khi mất kinh.
Phát hiện
ung thư vú khi có thai? Khối u vú thường có thể phát hiện trên lâm sàng. Ngay từ lần khám
thai đầu tiên đã có thể phát hiện thấy một u nhỏ và được xác định bằng chẩn
đoán hình ảnh và chọc thăm dò. Không có kỹ thuật phát hiện có giá trị nào ở
hoàn cảnh này. Nên thực hiện khám vú có hệ thống ngay từ khởi đầu của thai nghén,
nếu cần thiết thì thêm cả siêu âm chẩn đoán.
Thuốc điều
trị ung thư vú có độc hại cho thai? Bao giờ cũng cần lo ngại về mọi thứ thuốc dùng
trong khi đang mang thai, chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của hóa liệu pháp
đến thai và trẻ sơ sinh. Vì vậy, các thầy thuốc đã sử dụng phương pháp hồi cứu
để tiếp cận với những nguy cơ và lợi ích. Kết quả bước đầu cho thấy: Không có
những vấn đề nghiêm trọng xét trong thời gian ngắn, chỉ có những tác dụng tạm
thời đến tình trạng máu ở trẻ sơ sinh, chưa có nghiên cứu dài hạn ở những trẻ
này và cần có nghiên cứu dài hơi hơn với những trẻ bị tác động của thuốc khi
còn trong tử cung. Tất nhiên sẽ tốn kém, khó khăn nhưng khả thi. Hiện cũng chưa
có nhiều thông tin về taxane như là hóa liệu pháp khi có thai và cơ chế tác
dụng, chưa rõ thuốc có vô hại với thai không cho nên không dùng cho phụ nữ mang
thai. Với nhiều liệu pháp khác cũng vậy (herceptin, dùng kháng thể). Số lượng
bệnh nhân ít cũng gây khó khăn cho nghiên cứu.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét